Từ trận Như Nguyệt (1077) đến chiến thắng Xương Giang (1427) là hai chiến thắng mà nhân dân ta vô cùng anh dũng đánh đuổi quân xâm lược phương Bắc, đều gắn với vùng đất phía bắc Kinh thành Thăng Long, viết nên những trang sử chói lọi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ non sông đất nước.
>> Xử sự với lân bang như cha ông ta đã làm
>> Hành Cung Vũ Lâm và Đại thắng Nguyên Mông
Trận Như Nguyệt (1077) – Lý Thường Kiệt phạt Tống
Như Nguyệt là tên của một bến đò và là tên chung của một đoạn sông Cầu. Nhắc đến sông Cầu hẳn ai cũng nhớ đến trận đánh nổi tiếng của quân đội nhà Lý dưới sự chỉ huy của danh tướng Lý Thường Kiệt. Dòng sông có chiều dài 290km bắt nguồn từ núi Văn Ôn, chảy qua biết bao làng mạc, dòng sông đã nuôi nấng bao thế hệ để rồi khi chảy đến ngã ba Xà, nơi hợp lưu của sông Cà Lồ chảy vào sông Cầu, dòng sông là minh chứng duy nhất để kể lại cho muôn đời về trận đánh hào hùng, về phòng tuyến trên sông Như Nguyệt, nơi đánh đuổi 10 vạn quân bắc Tống.
Trận Như Nguyệt là một trận đánh lớn, mang tính quyết định của cuộc Chiến tranh Tống – Việt (1075 – 1077), và là trận đánh cuối cùng của triều Tống – Trung Quốc trên đất Đại Việt. Trận chiến diễn ra trong nhiều tháng, kết thúc bằng chiến thắng vẻ vang của quân Đại Việt và đại bại của quân Tống, đánh bại hoàn toàn mưu đồ xâm lược nước ta của giặc, buộc chúng phải thừa nhận Đại Việt.
Bối cảnh
Nhà Tống, Trung Quốc vào thế kỷ 11 có ý định xâm lược Đại Việt để mở rộng lãnh thổ, nhằm giải quyết một số khó khăn về đối nội và đối ngoại, đồng thời trả thù lần thất bại trong cuộc chiến tranh Tống-Việt lần 1 trước đó. Họ ra sức chuẩn bị cho việc tiến công Đại Việt: xây dựng đường giao thông, cơ sở chứa lương thực, huấn luyện binh sĩ, cho quân đóng trại sát biên giới Tống-Việt.
Nhà Lý sớm nhận ra ý định này của nhà Tống nên đã thực hiện một chiến dịch đánh đòn phủ đầu vào cuối năm 1075 đầu năm 1076, phá hủy các căn cứ hậu cần chuẩn bị cho chiến tranh của nhà Tống. Nhưng Nhà Tống vẫn quyết tâm tiến hành chiến tranh, vua Tống Thần Tông cử Quách Quỳ chỉ huy. Họ điều động cả bộ binh lẫn thủy binh nhằm chuẩn bị đánh Đại Việt.
Trước binh lực mạnh của nhà Tống, Lý Thường Kiệt quyết định chọn chiến lược phòng thủ: ông dùng các đội quân của đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi phía bắc nhằm quấy rối hàng ngũ của quân Tống. Các tướng Lưu Kỹ, phò mã Thân Cảnh Phúc, Vi Thủ An đem quân chặn bước tiến quân Tống ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, đồng thời chặn thủy quân của nhà Tống từ Quảng Đông xuống… Lý Thường Kiệt lui quân về phía nam Sông Cầu. Lý Thường Kiệt đã huy động binh lính và nhân dân xây dựng một phòng tuyến trên sông Như Nguyệt (Một đoạn của khúc sông Cầu) để biến nơi đây là nơi diễn ra trận đánh quyết định của cả cuộc chiến.
Tương quan lực lượng
Quân Tống huy động khoảng 100.000 quân chiến đấu, 10.000 ngựa, 200.000 dân phu, đồng thời có sự hỗ trợ từ lực lượng thủy binh. Đội quân xâm lược này có kinh nghiệm chiến đấu dày dạn trang bị tốt với máy bắn đá và hỏa tiễn. Chỉ huy là Quách Quỳ và phó chỉ huy là Triệu Tiết cùng với nhiều tướng khác được điều về từ miền bắc Tống.
Bộ phận quân chủ lực của nhà Lý gồm thủy binh và bộ binh phòng thủ và chiến đấu tại sông Như Nguyệt có 60.000 quân và một số lực lượng không tham gia trực tiếp vào trận đánh dùng để hãm chân và quấy rối tiếp vận phía sau khoảng trên 15.000 quân.
Chiến trường
Đoạn sông Như Nguyệt mà Lý Thường Kiệt chọn lựa xây dựng phòng tuyến có vị trí mang tính chiến lược: có núi ở cả hai bên bờ, đoạn sông có chiều dài khá rộng lên hơn 100 mét, con sông chặn mọi đường trên bộ có thể dùng để tiến quân vào Thăng Long. Trên khúc này có hai bến có tuổi đời lâu và quan trọng nhất là Như Nguyệt và Thị Cầu nằm trên đường giao thông quan trọng tiến vào Thăng Long và là con đường thuận lợi nhất để quân Tống vượt qua sông và tiến về Thăng Long. Vì địa thế quan trọng này, Lý Thường Kiệt quyết định lập một phòng tuyến tại đây nhằm đánh một trận chiến lược
Khu vực phòng thủ mà Lý Thường Kiệt xây dựng có nhiều chỗ núi ăn sát bờ sông hoặc rừng cây có mật độ dày đặc. Địa hình này có thể được lợi dụng để ngăn việc vượt sông dễ dàng, tạo điều kiện cho quân nhà Lý không cần phải xây dựng một chiến tuyến dài hết nam sông Như Nguyệt mà chỉ cần xây ở các khu vực đường giao thông, quan trọng nhất là đoạn Như Nguyệt, Thị Cầu và Vạn Xuân.
Chiến lũy của phòng tuyến được xây dựng bằng đất có đóng cọc tre dày mấy tầng làm dậu. Dưới bãi sông được bố trí các hố chông ngầm tạo thành một phòng tuyến rất vững chắc. Quân của nhà Lý đóng thành từng trại trên suốt chiến tuyến, mà quan trọng nhất là ba trại ở Như Nguyệt, Thị Cầu, Phấn Động. Mỗi trại binh có thể có thêm thủy binh phối hợp. Quân chủ lực do chính Lý Thường Kiệt chỉ huy đóng ở phủ Thiên Đức, một vị trí có thể cơ động chi viện nhiều hướng và khống chế mọi ngả đường tiến về Thăng Long. Quân Tống cũng đóng dọc theo hai bờ sông, tập trung ở các vị trí quan trọng: phó tướng Triệu Tiết đóng tại khu vực mà ngày nay là thôn Mai Thượng, xã Mai Đình, Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang khoảng đối diện bến Như Nguyệt; quân chủ lực do Quách Quỳ chỉ huy đóng tại phía đông cách Triệu Tiết chừng 30 km khoảng đối diện với Thị Cầu. Một bộ phận khác đóng tại các vị trí cần thiết, các ngọn núi quan trọng như núi Phượng Hoàng và núi Tiên, phòng trường hợp bị quân nhà Lý tiến công hoặc có thể tổ chức vượt sông nếu hoàn cảnh cho phép.
Nam quốc sơn hà, bài thơ thường được cho là của Lý Thường Kiệt sáng tác nhằm cổ vũ động viên tinh thần chiến đấu cho binh sĩ mình trong trận chiến này.
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định mệnh tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
Quân Tống tấn công
Quân Tống dưới sự chỉ huy của Quách Quỳ tiến tới bờ bắc sông Như Nguyệt thực hiện chiến lược đánh nhanh thắng nhanh mà vua Tống đã đề ra. Quách Quỳ quyết định cho quân đóng trại tại bờ bắc sông Như Nguyệt đối diện với phòng tuyến của quân nhà Lý để chờ thủy binh hỗ trợ cho việc vượt sông. Quách Quỳ không hề biết rằng cánh thủy quân do Dương Tùng Tiên chỉ huy đã bị thủy quân Đại Việt do Lý Kế Nguyên chỉ huy đã chặn đánh quyết liệt, liên tục tập kích hơn 10 trận. Đặc biệt với thảm bại tại sông Đông Kênh, thủy quân Tống buộc phải rút lui về đóng án binh bất động ở cửa sông.
Sau một khoảng thời gian chờ đợi không thấy thủy quân đến hội sư, đầu tháng 2 năm 1077, Quách Quỳ tổ chức vượt sông mà không có sự hỗ trợ của thủy quân. Tuy nhiên vì trước trại của Quách Quỳ tại Thị Cầu có một trại quân mạnh của nhà Lý án ngữ nên không dám cho quân vượt sông ở Thị Cầu. Cùng lúc, tướng Miêu Lý đóng tại Như Nguyệt báo với Quách Quỳ rằng quân Lý đã trốn đi và xin lệnh đem binh vượt sông. Trúng kế nhà Lý, Quách Quỳ chấp nhận và tướng Vương Tiến bắc cầu phao cho đội xung kích của Miêu Lý khoảng 2.000 người vượt sông. Đội xung kích của quân Tống đã chọc thủng được phòng tuyến của quân Lý, sẵn đà thắng, Miêu Lý định tiến nhanh về Thăng Long nhưng đến vùng Yên Phụ, Thụy Lôi thì bị nhà Lý phục kích, bao vây, và chặn đánh dữ dội tại cầu Gạo, núi Thất Diệu. Miêu Lý cùng những binh sĩ còn sống chạy về phía Như Nguyệt nhưng đến nơi thì cầu phao đã bị hủy và gặp quân nhà Lý đón đánh và bị diệt gần hết, dù quân Tống đóng bên bờ bên kia có cố gắng cho bè sang hỗ trợ. Thất bại của Miêu Lý đã làm cho Quách Quỳ hết sức tức giận.
Sau thất bại này, Quách Quỳ nhận ra quân nhà Lý không bỏ bất cứ đoạn nào trên phòng tuyến, nên không dám vượt sông mà không có thủy binh nên buộc phải chờ thủy binh tới. Vì thủy binh quân Tống đã bị chặn lại ngoài biển nên không tiến vào được, buộc Quách Quỳ phải tổ chức đợt tấn công lần hai mà không có sự hỗ trợ của thủy binh. Lần này, quân Tống dùng một lực lượng mạnh hơn nhiều so với lần trước và đóng bè lớn để vượt sông. Quân Tống ồ ạt đổ sang bờ Nam nhưng họ vấp phải các đợt phải công mãnh liệt của quân nhà Lý, số binh tiếp viện lại không qua sông kịp nên quân bị vỡ trận và thiệt hại nặng. Đợt tấn công lần hai lại kết thúc với thất bại nặng nề. Quách Quỳ thấy rằng, nếu không có thủy binh hỗ trợ sẽ không thể vượt sông được, buộc phải ra lệnh đưa quân về thế phòng thủ và tuyên bố rằng: “Ai bàn đánh sẽ chém!”, phá sản ý định đánh nhanh thắng nhanh của nhà Tống. Họ chỉ dám thỉnh thoảng dùng máy bắn đá bắn sang bờ nam.
Với tình thế này, sự quấy rối của dân binh địa phương, và việc thiếu lương thực do các cơ sở tiếp vận đã bị phá hủy trong cuộc tấn công phủ đầu năm 1075 của Lý Thường Kiệt, và khâu tiếp vận cho 10 vạn lính và 1 vạn ngựa vốn dĩ cần ít nhất 40 vạn phu, quá sức 20 vạn phu mà quân Tống đang có; đã khiến họ trở nên bị động và suy giảm sức chiến đấu.
Quân nhà Lý phản công
Nhận thấy quân Tống lâm vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nan, ngày càng mệt mỏi, hoang mang vì tin tức chờ mãi thủy binh không thấy đâu, nhưng lại không dám rút lui vì đó là một sự nhục nhã và tội lớn với triều đình nhà Tống. Quân Tống vẫn còn mạnh, cố thủ ở bờ bắc Như Nguyệt. Lý Thường Kiệt nhận ra đây là thời cơ tốt để tổ chức tiến công, ông nghiên cứu cách bố phòng của quân Tống và tổ chức các đợt tấn công theo kiểu tập kích chia cắt quân Tống.
Đầu tiên, ông mở một đợt tấn công vào quân của Quách Quỳ đang đóng ở Thị Cầu nhằm kéo sự chú ý của toàn bộ quân Tống về hướng này dù biết rằng Quách Quỳ có một khối quân khá lớn và bố phòng rất cẩn thận. Ông lệnh cho hai tướng Hoằng Chân và Chiêu Văn dùng 400 chiếc thuyền chở khoảng 2 vạn quân từ Vạn Xuân tiến lên Như Nguyệt. Đoàn thuyền vừa đi vừa phô trương thanh thế nhằm kéo sự chú ý của toàn bộ quân Tống về hướng họ. Quân nhà Lý đổ quân lên bờ bắc tấn công thẳng vào doanh trại quân Tống. Quân nhà Lý chiếm ưu thế, đẩy quân Tống vào sâu, buộc quân Tống phải huy động hết lực lượng và đem cả đội thân quân ra đánh. Tất cả các thuộc tướng cao cấp của Quách Quỳ như Yên Đạt, Trương Thế Cự, Vương Mẫn, Lý Tường, Diên Chủng đều có mặt trong chiến địa. Quân Tống lấy lại hàng ngũ tổ chức phản công, đẩy quân Lý lên thuyền để rút đi. Đồng thời quân Tống còn cho máy bắn đá bắn với theo, đánh chìm một số chiến thuyền. Trận này quân Lý thiệt hại nặng, 2 tướng Hoằng Chân và Chiêu Văn cùng mấy nghìn quân tử trận. Tuy nhiên, khi mọi sự chú ý của quân Tống đều đổ dồn về phía trại quân Quách Quỳ, thì Lý Thường Kiệt đích thân dẫn đại quân đánh vào doanh trại của Triệu Tiết.
Triệu Tiết đóng tại bắc Như Nguyệt trên một khu vực tương đối rộng và quang đãng, bố trí theo kiểu dã chiến không lũy tường tổ chức phòng ngự tạm. Triệu Tiết có chừng 3 đến 4 vạn quân chiến đấu, nhưng một số đã được điều đi tiếp ứng cho trại quân Quách Quỳ đang bị tấn công. Đại quân của Lý Thường Kiệt tập kích, quân của Triệu Tiết nhanh chóng bị đánh bại, thương vong trên một nửa quân số đến gần hết. Số quân Tống chết nằm la liệt cái gò nơi họ đóng quân, về sau cư dân địa phương gọi đó là gò Xác hay cánh đồng Xác.
Kết quả
Hai đợt tấn công này đã khiến quân Tống đại bại. Quân Tống mất tổng cộng 8 vạn quân và 8 vạn phu. Toàn bộ chi phí chiến tranh ngốn mất 5.190.000 lạng vàng. Thất bại này đã làm cho nhà Tống mất hẳn ý chí xâm lược Đại Việt.
Đây là chiến thắng lớn nhất và là trận chiến ác liệt nhất kể từ sau trận Bạch Đằng năm 938 của dân tộc Việt trong việc chống phương Bắc xâm lược. Chiến thắng này đã đánh dấu sự thành công nhiều chiến thuật chiến tranh phòng thủ và chủ động tấn công của danh tướng Lý Thường Kiệt trước một nước lớn hơn nhiều lần.
Trận Xương Giang – bạt vía quân thù
Gần 400 năm sau chiến thắng trên dòng sông Như Nguyệt, kẻ xâm lược phương bắc (lúc này là nhà Minh) lại phải nhận lấy một thất bại nặng nề ở Xương Giang (vùng nam huyện Lạng Giang và thị xã Bắc Giang hiện nay). Chiến thắng lịch sử năm 1427 ghi thêm một mốc son chói lọi trong lịch sử Đại Việt. Tầm vóc vĩ đại của đại thắng Xương Giang hạ thành diệt viện đã làm ngỡ ngàng những nhà viết sử mọi thời đại.
Thành Xương Giang do nhà Minh lập ra năm 1420, nằm trên huyết mạch nối Lưỡng Quảng với Đông Quan – Hà Nội. Quân Minh muốn án ngữ phía Bắc nhằm viện binh khi cần và làm một điểm chốt bảo vệ thành Đông Quan – Hà Nội. Xương Giang nguyên là một quân thành với chiều cao 4 – 5 mét, bề dày có nơi cả chục mét. Nội thành là một vuông đất rộng có thể đủ cho cả 2 ngàn quân đóng giữ.
Bình Định Vương Lê Lợi đứng lên tụ nghĩa ở Lam Sơn. Mùa xuân năm 1427, nghĩa quân Lam Sơn tiến ra Bắc, giặc Minh ở Đông Đô nguy cấp, nhà Minh cho 10 vạn quân kéo sang tiếp viện.
Xương Giang là một thành lớn, nằm án ngữ trên đường thiên lý từ biên giới phía bắc tới thành Đông Quan trở thành mục tiêu trọng yếu trong kế hoạch tấn công của nghĩa quân Lam Sơn. Họ quyết tâm hạ thành bằng mọi giá trước khi quân cứu viện của địch tới. Lê Lợi, Nguyễn Trãi cho quân chặn đánh viện binh dọc tuyến Chi Lăng – Xương Giang và mở chiến dịch hạ các thành luỹ nơi sào huyệt của quân xâm lược.
Diệt thành Xương Giang
Địa hình vùng Xương Giang đồng bằng trống trải, chỉ xen vài quả đồi thấp chạy sát ven sông. Địa hình vùng này dễ cơ động, có thể triển khai được lực lượng tương đối lớn hoặc tập trung binh lực cho những trận đánh tiêu diệt quy mô lớn. Quân địch phải đóng quân giữa một vùng trơ trọi, cô lập, khó lợi dụng địa hình để tổ chức phòng vệ, cầm cự. Chúng phá nhà cửa của dân, chặt cây cối, dựng rào, đắp lũy giữa đồng để phòng vệ.
Bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn đã dự kiến trước việc quân địch tiến xuống Xương Giang và đã nghiên cứu, chuẩn bị sẵn một thế trận bao vây tiêu diệt chúng ở vùng này.
Dòng sông Thương từ Chi Lăng, Hữu Lũng chảy về bao bọc cả ba mặt: tây – bắc, tây và tây – nam Xương Giang. Đoạn sông Thương này còn có tên là sông Xương Giang. Quân ta đã “lập hàng rào ở bờ bên tả sông Xương Giang”.
Quân thủy bộ của ta lợi dụng đoạn sông Thương này để bố trí bao vây địch ở mặt tây. Một bộ phận lực lượng quân thủy được điều lên đây để phối hợp với quân bộ án ngữ mặt tây đồng thời khi cần theo sông Thương và sông Lục Nam tiếp ứng cho các hướng khác. Một bộ phận quân bộ chiếm lĩnh những điểm cao bên tả ngạn sông Thương lập thành những trại quân. Di tích của những trại quân đó vẫn còn được bảo lưu qua các tên đất như đồi Vương ở làng Hương Mãn (hay làng Hạ), đồi Tướng ở xóm Chùa, đồi Phục ở làng Gai (hay làng Phúc Cai) thuộc xã Xuân Hương ngày nay. Một lực lượng nghĩa quân do tướng Phạm Văn Liêu chỉ huy, sau trận Chi Lăng, cũng rút về đóng ở Xuân Mãn.
Mặt đông nam có dòng sông Lục Nam ngăn cách với thành Chí Linh. Đối với bộ binh địch, sông Thương, sông Lục Nam là những con hào tự nhiên khó vượt qua. Hơn nữa, thủy quân của ta đã làm chủ các dòng sông này để cùng với bộ binh bao vây, khống chế địch.
Mặt bắc, hai đạo quân của Lê Sát, Lưu Nhân Chú và Lê Lý, Lê Văn An, sau trận Phố Cát cũng tiến xuống, hình thành thế bao vây, ép chặt địch.
Đó là vòng vây lớp trong đã khá lớn và dày đặc. Nhưng quân địch với số lượng khoảng 7 vạn quân vẫn có thể liều lĩnh phá vây để tháo chạy về nước hoặc tiến vào Đông Quan. Vì vậy, bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn bố trí lực lượng bịt kín các ngả đường về Quảng Tây và vào Đông Quan. Các cửa ải Chi Lăng, Pha Lũy và Bàng Quan (Chũ, Lục Nam, Bắc Giang) đều bị quân ta khóa chặt. Tướng Trần Nguyên Hãn được lệnh chia quân đóng giữ những nơi yếu hại, ngăn chặn mọi đường tiếp tế lương thực của địch. Ở mặt nam, tướng Trần Lựu, sau những trận đánh nhử địch nổi tiếng từ Pha Lũy đến Chi Lăng và sau trận Chi Lăng, Cần Trạm, được lệnh rút về trấn giữ thành Thị Cầu (thị xã Bắc Ninh, Bắc Ninh). Thành này cách Xương Giang 20 km về phía nam. Đây là một vị trí quan trọng nằm trên con đường dịch trạm về Đông Quan, ở về phía nam sông Cầu. Như vậy là sau “pháo đài” Xương Giang và tuyến sông Thương lại còn thành Thị Cầu, tạo nên thế bao vây nhiều lớp nhằm kiên quyết bịt kín con đường về Đông Quan.
Ở mặt đông nam, tướng Nguyễn Tuấn Thiện được lệnh đóng quân tại Bồng Lai (Gia Lương, Bắc Ninh) nhằm ngăn chặn sự liên lạc giữa quân địch tại Xương Giang và tại Chí Linh. Đồng thời dựa vào thế hiểm yếu của sông Lục Đầu, Nguyễn Tuấn Thiện xiết chặt vòng vây Chí Linh, góp phần cô lập quân Thôi Tụ, Hoàng Phúc (Theo thần tích Lê Thiện (tức Nguyễn Tuấn Thiện) tại đình làng Bồng Lai, Gia Lương, Bắc Ninh).
Quân địch đã hoàn toàn lọt vào vòng vây khép kín, dày dặc, nhiều tầng nhiều lớp quân thủy bộ của ta. Chúng dù đông cũng không thể nào thoát ra nổi, tiến không được mà lùi cũng không được. Thế trận của ta vững chãi, bao vây thì chặt chẽ , tiến công thì mãnh liệt.
Bộ chỉ huy nghĩa quân chủ trương chưa tiến công ngay, mà vây hãm một thời gian cho chúng thật rã rời, kiệt sức. Kết hợp với vòng vây ngày càng khép chặt, Nguyễn Trãi lại viết thư khuyên Thôi Tụ, Hoàng Phúc lui quân. Đồng thời, Nguyễn Trãi cũng cảnh cáo quân địch: “Các ông nếu còn dùng dằng lâu ngày, chứa lòng nghi ngờ, làm hỏng mưu kế, tôi sợ rằng các ông sẽ chết uổng vùi xương trong bụng cá ở Xương Giang, còn có ích gì đâu” .
Sau khi đã vây chặt số quân của Thôi Tụ, Hoàng Phúc và làm chủ chiến trường Xương Giang, bộ chỉ huy nghĩa quân lo tiêu diệt đạo quân Mộc Thạnh.
Lúc bấy giờ, Mộc Thạnh đã từ Vân Nam tiến vào vùng biên giới nước ta. Đúng như Lê Lợi đã nhận định, Mộc Thạnh tỏ ra dè đặt, không dám tiến sâu vào lãnh thổ nước ta. Mộc Thạnh đóng quân vùng biên giới để chờ đợi tin tức của đạo quân Liễu Thăng.
Bộ chỉ huy nghĩa quân đã ra lệnh cho các tướng giữ ải Lê Hoa. Các tướng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Nguyễn Chích, Lê Trung, Nguyễn Khuyển chỉ đánh kiềm chế ngăn chặn không cho quân địch tiến sâu và chuẩn bị lực lượng, chiếm lĩnh sẵn những nơi yếu hại để chờ thời cơ phản công.

Sau khi Liễu Thăng bị giết, Bình Định Vương liền thả cho tên lính hầu cận Liễu Thăng đem giấy tờ và ấn tín của chủ tướng về báo cho Mộc Thạch biết.
Khi đạo quân viện binh của Liễu Thăng đã thất bại nặng nề và quân địch bị giam chân ở Xương Giang, Lê Lợi liền sai một số tù binh trong đó có một tên chỉ huy, ba tên thiên hộ mang bằng sắc, ấn tín của Liễu Thăng và bức thư của Lê Lợi đến tận trại quân Mộc Thạnh, báo tin cho chúng biết. Bức thư đề cao Mộc Thạnh là người văn võ song toàn, nhân đức mà “thường tài không thể sánh kịp”, đồng thời kể lại chuyện Liễu Thăng ngoan cố không nghe lời khuyên bảo của nghĩa quân, không biết “đạo trời ưa sóng, lòng người ghét loạn, cậy vào đức thì tốt, cậy vào sức thì chết mà tự chuốc vạ vào thân”, nên “chết trong trận không biết lẫn lộn vào đâu”.
Trong thư, Nguyễn Trãi nhún nhường đề nghị: “Nay chúng tôi nhờ ơn của đại nhân như trời đất cha mẹ, nên mới thổ lộ tình thực, mong đại nhân thương cho. Đại nhân đem lòng người quân tử nhân đức, tất sẽ làm được việc nhân nghĩa để cho người đời này đều tiến lên cõi thái hòa, há lại chịu lấy đất chỗ An Nam bé nhỏ nốt ruồi, mà làm cho thiên hạ nhọc ư?… Nay vua tôi nước tôi một lòng, quân lính cùng một chí hướng. Về cái nghĩa kính trời thờ nước lớn không dám bỏ thiếu” và yêu cầu Mộc Thạnh tâu về triều Minh “cởi giáp hòa giải” .
Mộc Thạnh nhận được thư, lại trông thấy ấn tín, bằng sắc của Liễu Thăng và nghe tin Lương Minh, Lý Khánh tử trận, vô cùng khiếp sợ. Chiến quả của các trận Chi Lăng, Cần Trạm, Phố Cát được phát huy cao độ, đã tác động mạnh mẽ vào tinh thần của đạo viện binh Mộc Thạnh. Cả đạo quân này từ chủ tướng đến quân lính, như Nguyễn Trãi nói, “sợ mà vỡ mật” (Bình Ngô đại cáo).
Mộc Thạnh vội vàng đang đêm đem quân gấp rút tháo chạy về nước. Các tướng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Nguyễn Chích, Lê Trung, Nguyễn Khuyển đã chuẩn bị sẵn sàng, lập tức tung quân ra đánh đuổi. Quân ta thắng lớn ở Lãnh Câu (ngòi nước lạnh) và Đan Xá, diệt trên 1 vạn tên địch, bắt sống 1 nghìn tên và 1 nghìn ngựa, thu được rất nhiều chiến lợi phẩm gồm vũ khí, lương thực và vàng bạc. Mộc Thạnh “chỉ một mình một ngựa chạy thoát” về Vân Nam.
Chiến thắng ở Lãnh Câu và Đan Xá càng cổ vũ tinh thần quân dân ta ở chiến trường Xương Giang. Sau khi đập tan đạo quân Mộc Thạnh, bộ chỉ huy nghĩa quân tập trung lực lượng giải quyết nốt số quân địch ở đây.

Vương Thông ở thành Đông Quan không dám ra đánh vì biết trước rằng không địch nổi nghĩa quân. Y muốn bãi binh kéo về Tàu nhưng còn e ngại. Giữa lúc đó thì Nguyễn Trãi viết dụ thư dụ y và quân sĩ ra hàng để được bảo toàn tính mạng.
Vòng vây ở Xương Giang càng ngày càng khép chặt, tình trạng quân địch càng ngày càng khốn đốn. Đang đêm, Thôi Tụ phải sai quân bắn pháo báo tin cho các thành Chí Linh, Đông Quan ứng cứu. Khốn nỗi bọn giặc ở trong các thành này đang bị bao vây cũng đang chờ quân cứu viện, tự cứu mình chưa nổi làm sao cứu người khác.
Quân ta vừa vây hãm vừa dụ hàng. Nguyễn Trãi lại viết thư cho Thôi Tụ, Hoàng Phúc hết lời khuyên nhủ: “Tính việc ngày nay không gì bằng lui quân ra ngoài bờ cõi, tôi lập tức đem ngay các quân nhân đã bắt được ở các thành trả lại hết. Rồi đem thư của nước tôi và bản tâu nói rõ đầu đuôi tâu lên triều đình. May ra lời bàn của triều đình ưng cho, thì bọn các ông có thể không mất tiếng tốt, mà Nam, Bắc từ nay vô sự. Đó không những là sự may cho nước An Nam tôi, cũng là sự may lớn cho cả bàn dân thiên hạ”
Lê Lợi-Nguyễn Trãi kiên trì dụ hàng, Nhưng quân địch vẫn tỏ ra ngoan cố không trả lời. Chúng hy vọng cố kéo dài thời gian cầm cự chờ quân ở Đông Quan, Chí Linh lên ứng cứu hoặc quân Mộc Thạnh ở Vân Nam sang tiếp vìện. Sau nhiều lần kiên trì thuyết phục không được.
Đúng ngày 3 tháng 11 năm 1427, tức ngày 15 tháng 10 năm Đinh Mùi, quân dân ta được lệnh tổng công kích như đã định trước “hẹn đến giữa tháng 10 diệt giặc”.
Từ bốn mặt, hàng vạn quân ta nhất loạt mở những mũi tiến công quyết liệt vào các khu vực phòng ngự của địch. Bộ binh, tượng binh, kỵ binh của ta cùng phối hợp đột phá vào trung tâm doanh trại của địch. Quân ta vừa tiến công vừa kêu gọi quân địch đầu hàng. Quân ta lùa voi xông vào đánh và hô to: ai hàng thì không giết. Quân Minh hoặc bị bắn chết hoặc bỏ chạy. Toàn quân địch tan vỡ hết.

Trong trận đại thắng này, nghĩa quân bắt sống được Hoàng Phúc, Thôi Tụ cùng rất nhiều quân lính nhà Minh. Thôi Tụ không chịu hàng nên bị giết.
Quân địch đại bại. Kết quả là bọn tướng chỉ huy lớn nhỏ Thôi Tụ, Hoàng Phúc, Sử An, Trần Dung, … bị bắt cùng với mấy vạn quân giặc. Hơn 5 vạn quân địch bị giết chết. Một số chạy trốn, chỉ trong khoảng dăm bảy ngày đều bị dân ta – những người chăn trâu, hái củi bắt được đem nộp hết cho nghĩa quân. Hoàng Minh thực lục (tài liệu của nhà Minh) phải thú nhận toàn bộ quân Minh đều bị bắt và bị giết rất nhiều, duy chỉ có một tên chủ sự Phan Hậu trốn thoát về nước. Quân ta thu được rất nhiều ngựa, các loại vũ khí cùng với vàng bạc, vải lụa. Hàng loạt địa danh vùng Xương Giang và xung quanh như đồi Phục, đồi Cút, đồi Vương, đồi Tướng, bãi Bên, bãi Thiêu, bãi Cháy… như còn ghi lại chiến công oanh liệt của quân dân ta.
Kết quả
Chỉ trong vòng chưa đầy 1 tháng, đạo quân đông tới 10 vạn của quân Minh đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Bộ chỉ huy bị chết trận hay bị quân ta bắt gần hết. Toàn bộ lực lượng viện binh 1 vận quân của nhà Minh cũng đã bị đại bại.
Sau trận thắng lớn này, nghĩa quân trở lại thành Đông Quan. Bình Định Vương cùng quân sư Nguyễn Trãi ra đón và ủy lạo đoàn quân chiến thắng.
Kết quả này là một trong những nhân tố quan trọng khiến Vương Thông hết hy vọng ở viện binh, lại viết thư xin hòa. Bình Định Vương thuận cho và hẹn Vương Thông ra phía nam thành Đông Quan lập đàn thề cùng Trời Đất là sẽ rút hết quân về. Vương Thông y hẹn cùng các tướng lãnh đúng ngày ra thề cùng Bình Định Vương
Với nghệ thuật dùng binh tài tình, độc đáo của Lãnh tụ Nghĩa quân, chúng ta đã làm nên một chiến thắng Xương Giang lịch sử, thất kinh, bạt vía quân thù.
Một số nghĩa quân khóc tâu với Bình Định Vương: “Giặc Minh tàn ác sao không giết hết đi mà để chúng yêu ổn trở về nước?”. Bình Định Vương trả lời: “Giết giặc Minh lúc này quá dễ nhưng sẽ gây thù oán rồi chiến tranh kéo dài mãi thì làm sao mà xây dựng lại được nước.?”
Đây là lần hiếm hoi có một trận thắng của quân ta triệt hạ được một thành trì quan trọng có số quân lớn. Có lẽ, thành công tại chiến thắng thành Xương Giang chỉ đứng sau sự kiện Lý Thường Kiệt hạ thành Ung Châu. Chiến thắng Xương Giang, đất nước được giải phóng, nền độc lập dân tộc được giữ vững.
Dẹp xong giặc Minh rồi, Bình Định Vương lại giao cho quân sư Nguyễn Trãi soạn tờ bá-cáo cho thiên hạ đều biết việc gian khổ trong 10 năm qua. Đó là bài hịch Bình Ngô Đại Cáo một áng văn chương hùng tráng, tuyệt tác sẽ còn truyền lại đến muôn đời… Bình Định Vương lên ngôi vua tức là vua Lê Thái Tổ và đặt tên nước là Đại Việt (1428).
Ngày này khu di tích Như Nguyệt Xương Giang là nơi lưu dấu, là bằng chứng lịch sử của hai trận chiến ác liệt (trận Như Nguyệt và chiến thắng Xương Giang) mà nhân dân ta đã đập tan đoàn quân xâm lược phương Bắc, dạy cho chúng những bài học xương máu, bảy gãy ý chí xâm lược của chúng.

Ngày 17/2/2013, Đại tướng Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an trồng cây lưu niệm tại khu di tích Như Nguyệt Xương Giang ở xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, Bắc Giang. (Ảnh: Đặng Nam)
Khu di tích tồn tại đến ngày nay mang giá trị to lớn đối với lịch sử dân tộc, là bằng chứng trung thực phản ánh truyền thống lịch sử chống giặc ngoại xâm. Đồng thời là lời căn rặn của cha ông ta hãy giữ thái độ hòa hiếu với lân bang. Làm mọi cách để chiến tranh không xảy ra. Tập trung xây dựng đất nước phồn vinh, nhân dân no ấm. Nhưng nếu bị buộc phải đứng lên thì cũng sẵn sàng cùng muôn dân đứng lên đập tan mọi cuộc xâm lược, bẻ gãy mọi ý chí của kẻ thù, bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc như cha ông ta đã làm.
Phước Bình (theo truongtansang.net)
-
NHÀ KHOA HỌC MANG HỒN THƠ – Lữ hành trên trần thế
-
Gieo cho cây đời hạnh phúc mãi xanh tươi
-
Giáo sư, Viện sĩ Hoàng Quang Thuận – Nhà khoa học với những công trình “thơ” sống mãi với thời gian
-
GS.VS Hoàng Quang Thuận – Vẻ đẹp của một nhân cách, một trí thức tài ba
-
Giáo sư. Viện sĩ Hoàng Quang Thuận – Nhà khoa học, người thơ với khát khao hiến dâng tất cả bản ngã cho cuộc đời
















