Người dân Việt đều biết đến cố đô Hoa Lư từng là kinh đô của nước Đại Cồ Việt của các triều đại Đinh, Tiền Lê và buổi đầu nhà Lý. Nhưng chắc không nhiều người biết đến Hành cung Vũ Lâm, nơi vua tôi nhà Trần đặt căn cứ địa để củng cố lực lượng, phản công giải phóng thành Thăng Long trong cuộc kháng chiến lần thứ hai đánh tan quân xâm lược Nguyên Mông giành độc lập.
>> Từ trận Như Nguyệt, đến chiến thắng Xương Giang
>> Xử sự với lân bang như cha ông ta đã làm
Lịch sử có những khúc quanh thú vị khi vua Trần Nhân Tông sau hai lần lãnh đạo toàn dân kháng chiến đánh tan giặc Nguyên Mông. Sau khi đã hoàn thành việc bình Bắc, định Nam, yên việc nước việc nhà đã nhường ngôi cho con. Tháng 7 năm Giáp Ngọ (1294), Thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất gia tại Hành cung Vũ Lâm, chùa Khai Phúc (Ninh Hải–Hoa Lư–Ninh Bình). Địa danh và sự kiện lịch sử này được ghi lại trong tập thơ NGỌA VÂN YÊN TỬ với bài thơ:
Vua Trần Vào Yên Tử
Xuất gia hành đạo cung Vũ Lâm
Về tu Yên Tử pháp Hương Vân
Đạo hiệu Trúc Lâm Linh Yên Tử
Tâm pháp lòng nhân – tỏa sáng ngần
Núi tuyết ngày xưa Tất Đạt Đa
Giã từ cung cấm điện ngọc ngà
Ngày nay Thái Thượng về Yên Tử
Tâm thành tâm Phật có đâu xa

Vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308) là người đầu tiên coi tiếng dân, lòng dân, sức mạnh của dân là điều thiêng liêng.
Hành cung Vũ Lâm là nơi núi rừng hiểm trở, non xanh, nước biếc (nay là khu du lịch Tam Cốc-Bích Động), phía trước là con sông Ngô Đồng chảy qua, phía sau là núi đá và những thung lũng để tập trận, luyện rèn cả thủy, bộ binh để chuẩn bị quyết chiến với quân xâm lược.
Khi quân Nguyên Mông đánh vào Thăng Long, triều đình đã rời khỏi kinh thành để lại vườn không nhà trống, đưa quân về phủ Thiên Trường và Phủ Trường Yên. Khi cánh quân của Toa Đô đánh từ Thanh Hóa ra đến Hành cung Vũ Lâm (Hoa Lư) đã bị quân tướng nhà Trần đánh tơi bời, để rồi từ đây qua Thiên Trường đánh về giải phóng Thăng Long khiến cho tướng giặc Thoát Hoan phải chui vào ống đồng chạy trốn.
Sau cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Cổ lần thứ nhất (1258) vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) 40 tuổi, đã nhường ngôi cho con về vùng núi lập am để tu hành, mở đầu cho việc xây dựng Hành cung Vũ Lâm”. Phía trước Hành cung ngài cho dựng một nếp chùa khiêm tốn, làm nơi tu tập và cũng là nơi cho dân chúng lui tới chiêm bái Phật. Chùa ấy ngài đặt tên là “Khai Phúc tự”. Vậy cái tên “Khai Phúc” có ý nghĩa gì? Đó là đức Trần Thái Tông muốn mở lòng đưa hạnh phúc tới mọi người, mọi nhà.
Tuổi niên thiếu, Trần Khâm (tức vua Trần Nhân Tông sau này) từng theo ông nội về Vũ Lâm và say sưa nghe ông kể chuyện về cuộc đời đức Phật. Nơi đây có dòng sông Sào Khê đi từ Trường Yên về Hành Cung hợp lưu với sông Vân Sàng, sông Yên làm cho Hành cung trở thành điểm nối quan trọng giữa kinh thành Thăng Long, Ninh Bình, Thái Bình và Nam Định, khiến vùng núi rừng sông nước này trở thành sơn kỳ thủy tú mà hoàng tử Trần Khâm hằng mê đắm.
Năm 1282 – 1283, trước khi quân Nguyên Mông kéo 50 vạn đại binh sang định làm cỏ nước Nam lần thứ 2 thì vua Trần Nhân Tông đã cùng với các tướng lĩnh triều đình về lại Hành cung Vũ Lâm để bàn kế giữ nước, lập các phòng tuyến chặn giặc. Sự thật cả vùng Vũ Lâm, Hệ Dưỡng, Tam Cốc, Bích Động đã được hai vua Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông sử dụng làm căn cứ phía tây nam đất nước, cùng với căn cứ Vạn Kiếp tại khu đông bắc do Trần Hưng Đạo chỉ huy là hai căn cứ kháng chiến lớn nhất trong công cuộc chống quân xâm lược Mông – Nguyên.
Vua Nhân Tông sai Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Trần Quang Khải, Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão ra chống giặc. Lúc đầu quân ta thua to rút lui khỏi thành Thăng Long. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn soạn quyển Binh Thư Yếu Lược và bài Hịch Tướng Sĩ để huấn luyện và khuyến khích ba quân.

Trần Bình Trọng là một tướng tài. Giặc Nguyên Mông bắt được ông và dụ ông đầu hàng. Ông trả lời:” Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm Vương đất Bắc”. Giặc biết không khuyến dụ ông được nên đem ông ra chém.

Trận Vạn Kiếp, Hưng Đạo Vương cùng các tướng đại thắng. Thái Tử Thoát Hoan phải chui vào ống đồng cho quân kéo chạy về Tàu.

Năm 1288: Hưng Đạo Vương sai lấy cây nhọn bọc sắt cắm xuống lòng sông Bạch Đằng rồi dùng thuyền nhỏ dụ thuyền giặc ra đánh. Khi nước cạn, thuyền giặc mắc cọc đổ nghiêng, vỡ đắm rất nhiều. Quân ta giết giặc máu đỏ cả dòng sông. Tướng Nguyên là Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp đều bị bắt.

Thoát Hoan nghe tin bại trận, dẫn bộ quân chạy về, bị Phạm Ngũ Lão và các tướng khác phục kích đánh tan tành. Từ đó nhà Nguyên không dám dòm ngó nước ta nữa . Dân Nam Việt lại được thanh bình xây dựng đất nước.
Ngày nay, những tên đất, tên làng ở vùng đất Văn Lâm còn in đậm dấu ấn lịch sử thời ấy. Đó là cánh đồng Trường Thi nơi tập trận, Bến Thánh là bến thuyền tập kết thủy quân, làn Thiện Trạo (chèo thuyền giỏi), làng Hạ Trạo (gác chèo) ở xã Ninh Thắng là nơi gác chèo khi vào đến Hành cung. Đó là làng Tuân Cáo, nơi các quan vào trình báo nhà vua; làng Hành Cung, là nơi ở của Vua.
Về Hành cung Vũ Lâm ta còn nghe nhắc đến những cái tên như Thái Vi – Thung Nham (xã Ninh Hải); Hành Cung – Khả Lương – Tuân Cáo – Hạ Trạo (xã Ninh Thắng) và Khê Đầu, Bộ đầu, Hệ Dưỡng (xã Ninh Vân). Đó là những địa điểm và cũng là địa danh có liên quan trực tiếp đến cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Nguyên năm 1285.

Sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất (1258), vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) – lúc đó tuổi tròn 40 nhường ngôi cho con rồi lui về vùng núi Vũ Lâm tu hành, lập am Thái Vi ở phía Tây thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư ngày nay.
Còn đó đền Thái Vi, nơi thờ các vị vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Hoàng hậu Thuận Thiên, Trần Nhân Tông và Trần Anh Tông, quanh năm khói hương nghi ngút. Còn đó những núi Võ, núi Văn, mỏ đại bàng tạo cho khu du lịch Tam Cốc-Bích Động (trên vùng đất Hành cung xưa) vẻ hấp dẫn đặc biệt với du khách bốn phương.
Hành cung Vũ Lâm và chùa Khai Phúc gắn liền với hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông (1285 và 1288), gắn liền với sự nghiệp chỉ đạo chiến tranh của vua Trần Nhân Tông, đồng thời cũng là nơi đầu tiên Trần Nhân Tông xuất gia tu Phật.

Trần Thái Tông lập hành cung Vũ Lâm trong kháng chiến Nguyên Mông, Quang Trung hành quân thần tốc từ phòng tuyến Tam Điệp tới Thăng Long để đánh tan quân Thanh xâm lược…
Bằng những rung động của chiều sâu cảm xúc, bằng sự tri ân với cội nguồn đất phật, đặc biệt là nhà vua Trần Nhân Tông, trong tập thơ HOA LƯ THI TẬP có một bài thơ ghi lại địa danh này xúc động và khúc chiết:
Vua Trần Nhân Tông thăm Vũ Lâm
Nhân Tông thăm am động vua cha
Hành cung một thuở của sơn ha
Thế núi hình rồng sơn thủy động
Dưới bóng tà dương tiếng chuông xa.
Hằng năm, mỗi độ xuân về, hàng triệu lượt cháu con của Rồng Tiên đất Việt và bạn bè bốn phương lại về cung Vũ Lâm lễ Phật và vãng cảnh. Họ bồi hồi tưởng niệm Đức Vua Trần, một ông vua tiêu biểu nhất cho tinh thần nhập thế “đạo pháp gắn liền với dân tộc”.

Theo lệ hàng năm cứ đến ngày14 tháng 3 (âm lịch) lễ hội Thái Vi được tổ chức và coi là Quốc lễ. Đây là dịp để nhân dân Ninh Bình và nhân dân cả nước tưởng nhớ cong lao to lớn của các đời vua Trần- những người có công với dân với nước.
Hành cung Vũ Lâm (Ninh Bình) cùng với Yên Tử (ở Quảng Ninh), Thiên Trường (ở Nam Định) là những nơi thánh tích của Phật giáo thời Trần. Các vị vua Trần thường tìm những nơi hiểm trở, quan trọng để tu hành, khiến những nơi này trở thành chốn linh địa để muôn đời sau hành hương chiêm bái.

Ngày 16/2/2014, Đại tướng Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an trồng cây lưu niệm tại khu di tích Hành Cung – Vũ Lâm (Khu Du lịch Tràng An)
Cũng trong tập thơ HOA LƯ THI TẬP có bài thơ nói về địa danh lịch sử này:
Hành cung Vũ Lâm
Thái thượng vân du núi Vũ Lâm
Hành cung vi diệu nhất cõi trần
Hang sâu núi thẳm nơi thiền ngư
Ngàn năm con tạo cứ xoay vần.
–
Vũ Lâm thiên tuế thăm đền cũ
Trường An lau trắng gió phất phơ
Đầu Đà tông phái về Yên Tử
Hoàng cung sương gió đã phai mờ.
Sau khi thắng trận trở về, vua Trần Nhân Tông hỏi quần thần về việc nhà vua định xây dựng lại thành quách, đặc biệt là thành Thăng Long trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông bị giặc Thát tàn phá nặng nề, danh tướng Trần Hưng Đạo đã trả lời:
“Tôi thấy việc xây dựng thành trì chưa phải cần thiết lắm. Việc nhà vua phải làm ngay là úy lạo nhân dân. Đã bốn năm (1282-1285) giặc Thát sang đây, từ nơi thôn nội đến đồng ngoài bị tàn phá hầu hết, thế mà nhân dân ta đã xuất tài, xuất lực, đi lính, đóng thuế để triều đình làm nên sự nghiệp. Ngày nay, nhà vua trở về yên ổn, trước hết phải úy lạo nhân dân. Những nơi bị tàn phá phải xóa thuế cho dân trong một số năm. Những nơi bị thiếu đói, phải xuất thóc kho ra để cứu tế cho dân. Có như vậy, nhân dân mới quy hướng về triều đình hơn nữa. Người xưa nói: “Chúng chí thành thành” (ý nói: ý chí của dân chúng là thành trì giữ nước vững vàng nhất). “Thành” đó là cái thành phải xây dựng ngay. Mong nhà vua xét kỹ”.
Nghe lời Trần Hưng Đạo, vua Trần Nhân Tông đã ra lệnh xóa thuế cho dân trong ba năm. Có thể rút ra bài học chiêm nghiệm thời thế sâu sắc! Bất kỳ ở đâu, quốc gia, dân tộc nào, thời đại nào, dưới chính thể nào, nếu tâm đức, nhân nghĩa được đề cao, tài đức, lương tri được trọng dụng, lời chính khí được lắng nghe, lãnh tụ, nhân dân, kẻ sĩ đoàn kết, muôn người như một, đồng tâm nhất trí vì dân, lấy dân làm gốc để dựng nước và giữ nước… thì ở đấy đại nghĩa nhất định thắng lợi, nghiệp lớn nhất định thành công!
Phước Bình (theo truongtansang.net)
-
NHÀ KHOA HỌC MANG HỒN THƠ – Lữ hành trên trần thế
-
Gieo cho cây đời hạnh phúc mãi xanh tươi
-
Giáo sư, Viện sĩ Hoàng Quang Thuận – Nhà khoa học với những công trình “thơ” sống mãi với thời gian
-
GS.VS Hoàng Quang Thuận – Vẻ đẹp của một nhân cách, một trí thức tài ba
-
Giáo sư. Viện sĩ Hoàng Quang Thuận – Nhà khoa học, người thơ với khát khao hiến dâng tất cả bản ngã cho cuộc đời


