Hoàng Quang Thuận với cõi Thi Vân Yên Tử

Thi Vân Yên Tử là tập thơ, mỗi bước là một nguồn cảm hứng đạo lý của tác giả, cho nên nó đầy đủ cả tình cảm, ý chí và lý trí của một tâm hồn khai triển, của một con người sống động, như hoa trái của một lộ trình tự quán chiếu và độc thoại với bản thân trong cuộc lữ hành đến vùng đất Phật Việt Nam, tông phái Trúc Lâm. Đặc biệt, thiền học ở tập thơ là hành động thực hiện nối liền đời sống nhập thế với đời sống xuất thế, xã hội với thiên nhiên, nhân sinh với nghệ thuật bằng một dòng tâm linh khai triển, cởi mở từ hệ luỵ thế tục sang tự do giải thoát, từ cõi sinh tử đến ý thức không sinh tử. Tác giả không ngồi một chỗ trong tháp ngà để thành tựu trên lý thuyết bằng hệ thống trí thức khái niệm bế quan, mà bằng cả thời gian khá dài tu học phụng sự đời, hướng về đạo pháp, đồng thời tham cứu tâm linh học nội điển, hợp nhất cả trí thức và hành động cùng nghệ thuật.

Thi Vân Yên Tử gồm những bài thất ngôn luận rất dễ đồng cảm, đạo vị trong thơ tuy chỉ nói lên những điều kiến giải; không thể hiện được sự thực chứng nhưng cũng đủ để gói cả một trời man mác của nhiên giới, của vũ trụ trong thi ca. “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền” – đó là sự cộng hưởng giữa nghệ thuật và Tâm Đạo. Thi Vân Yên Tử chữ nghĩa đong đầy, hình thức bình dị nhưng ý tưởng và niệm đầy trong thơ. Mỗi bài thơ là một dòng suy nghĩ, phản ánh thế giới tâm hồn của tác
giả, làm nên sự phong phú, đa chiều, nhiều tầng ý nghĩa. Mỗi câu luôn “đẫm đầy chất đạo” và gây cho chúng ta một cảm xúc kỳ diệu của sự giải thoát, thi tính, thi chất và Thiền tính vọng lên như tiếng nhạc vọng lên vậy:

Gióng giả chuông chùa vọng xa xăm
Sạch bụi trần ai, ánh trăng rằm
Âm vang tỉnh giấc mê trần tục
Tây Phương đất Phật núi Hoa Âm

Nên, như danh nhân đã nói: “Nghệ thuật là một cái gì cao cả hơn sự khéo tay, hơn cả tài năng và nhận thức của chúng ta. Nghệ thuật là một cái gì đó được sáng tạo nên không chỉ bằng bàn tay, trí óc con người, mà còn bằng cái gì đó vút lên từ ngọn nguồn ẩn chìm trong tâm hồn”. Do thế, trước thiền cảnh Yên Tử, thơ Hoàng Quang Thuận đã rung lên niềm cảm xúc:

Bốn bề núi biếc mây bao phủ
Suối hát muôn đời khúc thiền ca

Đó là những dòng chảy giữa thực và mộng, thế giới muôn trùng quay tròn cuộc quả quả – nhân nhân:

Ngân nga chuông vọng chiều xa vắng
Cung nữ ngàn xưa tiếng thở than

Và, tỉnh thức:

Đêm say giấc mộng hết ưu phiền

Vì thế, Phật không ngự trên cao, Phật ở ngay tâm thức giác con người, Phật hoà và hoá với vạn hữu vạn không… Phật ở cõi lớn không có ngoài, Phật ở cõi nhỏ không có trong, Phật ở… Am Dược Tiên:

Tìm về nơi dấu Phật, tích Tiên
Tiêu dao trong cõi động rừng Thiền 

Vì vậy, Phật không ở ngoài chúng sanh. Lìa chúng sanh không có Phật. Tâm là một biểu tượng, một âm hưởng, một nhịp thơ giấu một tượng trưng hình dung sự hiện diện của Phật trong vô cùng trong vô biên. Cho nên, hữu tình hay vô tình, chúng sinh đầu niệm Phật; cõi Phật hiện hữu ở trong Tâm. Và một khi hơi thở con người đồng hoá với cõi Như thì lòng người niệm Phật bằng Thiền: Thiền và nhiên giới là một, Thiền và tâm là một. Không còn sai biệt nữa: mọi thể như mọi thể, mọi âm thanh là hết cả mọi âm thanh, đạo lý là âm thanh, âm thanh là đạo lý vô tận… là hơi thở, là tụng kinh niệm Phật, là niệm Thiền:

Hổ phục bên hang giếng nước thiêng
Sư chùa tụng Phật, hổ ngồi Thiền

Thực thể siêu hình ấy đã phản ánh trong kinh Lăng già Tâm ấn: Đại nhi vô ngoại, tiểu nhi vô nội… Lớn đến không có ngoài, nhỏ đến không còn có trong… lớn nhỏ mất biên giới thành một cái mà Khổng Tử nói: ”Nhất dĩ quán chi”, Lão giáo gọi Đắc Nhất: cả một yếu lý siêu hình và không – thời – gian – vạn – vật chứa trong những câu thơ của Hoàng Quang Thuận, hình dung “cõi” mà chúng sanh tới: cõi vô cùng mà hữu cùng, hữu cùng mà lại vô cùng… một khi ranh giới đã xoá bỏ, đã đồng hoá thì không còn trong không còn ngoài… tất cả làm một. Hàng trăm câu thơ của Hoàng Quang Thuận cùng biểu thị yếu lý của sự giải thoát:

Gió reo thánh thót những cung đàn

Chùa Đồng Yên Tử trời đất Phật
Ưu phiền trần tục thảy tiêu tan

Đó là sự vận hành đi vào thực tại, là thực tại và chứng ngộ: “Vua Trần đã biến thành vua Phật,/ Tây Phương kề cận Phật Như Lai”.

Tại đây, khi vô ngã tưởng có mặt thì ngã tưởng vắng mặt. Nhưng, do vì tập khí chấp ngã lâu đời, các ngã tưởng thường dấy khởi che mờ tâm thức hành giả và che mờ thực tại, khiến hành giả cảm nhận chập chờn thực tại và hạnh phúc: đây là thời điểm của sáng tác thi ca, cảm tác những vần thơ đạo, cả những khi cảm nhận hư ảo và khổ đau tạo nên niềm nhớ nhung về thực tại cũng là nhân duyên để sáng tác.

Hoàng Quang Thuận với cõi Thi Vân Yên Tử

Hoàng Quang Thuận với cõi Thi Vân Yên Tử

Và, như lời tu sĩ Viên Minh đã nói: “Thơ là vẻ đẹp của ngôn ngữ – Đạo là vẻ đẹp của vô ngôn”. Hai phạm trù tưởng chẳng bao giờ hội ngộ, thế mà từ ngàn xưa trong văn học của loài người cả hai mãi hoà quyện với nhau như hình với bóng.

Thơ, một thể loại ngôn ngữ có vẻ như thực thực hư hư, đầy tính văn nghệ phiêu bồng, phất phơ lãng đãng và chẳng có độ chính xác nào đáng tin cậy, nào ngờ lại chuyển tải được Đạo cao hơn bất cứ thể loại văn chương triết luận nào.
Thơ gần với Đạo chính vì trong cốt cách lửng lửng lơ lơ của mình thường để ngỏ những dấu lặng bất ngờ cho vô ngôn âm thầm hiển lộ. Đạo không hiện hữu trong ngôn ngữ của thơ mà tràn đầy trong tính thơ của ngôn ngữ: Tính mơ hồ, vô định. Bởi vì cái gì đã được xác định hay phủ định một cách quá rành mạch thì không còn là Đạo nữa. Chỉ khi nào ngôn ngữ tự hoá thân – qua tính thơ huyền ảo – mới thực là lối vào tịch lăng vô ngôn”.

Vậy, tịch lăng vô ngôn là gì? Tịch lăng vô ngôn là thiền. Thiền là sự đồng hoá trong hư, trong tịch, trong thường trụ, trong cõi phi sai biệt… giữa người và thiên giới, thiền là tịch lăng vô ngôn. Thiền là cảm thông, là hoá, là hoà. Thiền là mất biên giới… như thể cái thiện cao tột vượt qua thiện và ác, cái đẹp tối thượng vượt cả hai xấu và đẹp. Cái thực tại vĩ đại vượt khỏi huyễn và thực. Hạnh phúc tối cao thoát ngoài đau khổ và vui sướng. Thực tại và thành tựu khi giữa cuộc sống đầy phiền trược này, Hoàng Quang Thuận, với tâm hồn nhạy cảm, tứ thơ hiền hoà anh đã náu mình trong cô tịch, lắng nghe tiếng thời gian và cái hồn của tạo vật muôn loài để đi tìm lời giải đáp cho những băn khoăn của đời sống tâm linh con người. Với dòng chảy Yên Tử, thơ anh đã đắc tu – Đài sen hoa nở vua lên ngự, toả sáng hào quang Bạch Yên Vân. Và, giải thoát:

Vua Trần nhập diệt cõi Niết Bàn

Sài Gòn đầu hạ, 2006
VŨ THỤY

Thi vân Yên Tử
Tập thơ
Thi Vân Yên Tử của nhà thơ Hoàng Quang Thuận là tập thơ thiền gồm 143 bài về Yên Tử được viết một cách hệ thống và phong phú mang nhiều hàm ý sâu xa nhưng lại được thể hiện qua những vần thơ thanh cao, huyền diệu, xa vắng, tĩnh lặng đồng thời lại gần gũi với đời thường. Tập thơ vẽ ra cho độc giả những phong cảnh tuyệt mỹ của núi mây Yên Tử đồng thời soi rọi lại những chặng đường vua Trần Nhân Tông đã đi qua để xây dựng nên Trung tâm Thiền phái Trúc Lâm của Việt Nam. Ngoài ra, độc giả còn được tiếp cận thiền học một cách tự nhiên, dễ dàng và sâu sắc.